Định nghĩa chứng tạo đờm do virus.
Chứng tạo đờm do virus hay còn gọi là RSV do một loại vi trùng gây nhiễm trùng ở phổi và đường hô hấp, bệnh rất phổ biến và phần lớn trẻ em 2 tuổi đều bị nhiễm virus này, người lớn cũng có thể bị lây nhiễm. Nhiễm virus đường hô hấp có thể tạo đờm nghiêm trọng ở một số trường hợp, đặc biệt là ở trẻ sinh non và trẻ sơ sinh có bệnh tiềm ẩn. RSV cũng có thể trở nên nghiêm trọng ở người lớn tuổi và người bị bệnh tim và phổi.

Cách dấu hiệu và triệu chứng của chứng tạo đờm do virus
Dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm virus nhẹ giống như các triệu chứng cảm lạnh như: Tắc nghẽn hoặc chảy nước mũi, ho khan, sốt nhẹ, đau họng, đau đầu nhẹ, cảm giác khó chịu.
Trong trường hợp bệnh tạo đờm do virus nặng có thể bao gồm: Sốt cao, ho nặng, thở khò khè, có tiếng the thé thường nghe khi thở ra, thở nhanh hoặc khó thở, da xanh do thiếu oxy (xanh tím).
Đa số trẻ lớn và người lớn có thể tự hết bệnh trong 8-15 ngày. Riêng ở trẻ sơ sinh, trẻ sinh non hoặc người lớn có vấn đề tim hoặc phổi mạn tính, chứng tạo đờm do virus có thể trở nên nghiêm trọng hơn, đòi hỏi phải nhập viện.
Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh
Bệnh tạo đờm do virus có thể gây ra các biến chứng như:
- Viêm phổi hay viêm tiểu phế quản.
- Hen suyễn.
- Nhiễm bệnh tái phát.
Chứng tạo đờm do virus có thể do các nguyên nhân.
Virus tạo đờm hô hấp - RSV xâm nhập cơ thể thông qua mắt, mũi hoặc miệng. Nó lây lan dễ dàng khi truyền nhiễm qua đường hô hấp, như từ ho hoặc hắt hơi và được truyền sang cho người khác nếu như hít vào hay bắt tay. Các virus cũng có thể sống hàng giờ trên các đối tượng như mặt bàn và đồ chơi. Miệng, mũi hoặc mắt sau khi chạm vào các đồ vật có virus.
Đối tượng có nguy cơ mắc phải chứng tạo đờm do virus
Những đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh nghiêm trọng, đôi khi đe dọa tính mạng bao gồm:
- Trẻ em dưới 1 tuổi hoặc sinh non
- Trẻ có hệ miễn dịch yếu, hoặc trẻ mắc bệnh nào đó, chẳng hạn như tim bẩm sinh hoặc bệnh phổi.
- Người cao tuổi bị suy tim xung huyết hay bệnh phổi tắc nghẽn.
- Những người bị suy giảm miễn dịch, bao gồm cả những người có HIV/AIDS.
Xét nghiệm và chẩn đoán chứng tạo đờm do virus
- Kiểm tra mức độ oxy trong máu thông qua đo xung oxy
- Kiểm tra số lượng bạch cầu thông qua xét nghiệm máu. Ngoài racòn tìm sự hiện diện của virus, vi khuẩn.
- Kiểm tra viêm phổi bằng cách chụp X-quang.
- Xét nghiệm các chất tiết đường hô hấp từ mũi để kiểm tra virus.
- Trong khám thực thể, có thể nghe phổi với ống nghe để kiểm tra thở khò khè hoặc các âm thanh bất thường khác.
Điều trị chứng tạo đờm do virus hiệu quả
Trường hợp nhẹ: Bác sĩ có thể kê đơn thuốc kháng sinh nếu có biến chứng của vi khuẩn như nhiễm trùng tai giữa hoặc viêm phổi do vi khuẩn. Hoặc dùng các loại thuốc không kê đơn như: acetaminophen hoặc ibuprofen, tùy thuộc từng trẻ. Các loại thuốc giảm sốt không có tác dụng chữa trị nhiễm trùng.
Trường hợp nặng: Thuốc giãn phế quản khí dung như albuterol (Proventil, Ventolin) có thể được sử dụng để làm giảm thở khò khè. Đôi khi, ribavirin (Rebetol dạng khí dung), một tác nhân kháng vi-rút, có thể được sử dụng. Bác sĩ cũng có thể đề nghị tiêm epinephrine hoặc dạng epinephrine hít thông qua một máy phun sương (racemic epinephrine) để làm giảm triệu chứng.
Phương pháp phòng ngừa chứng tạo đờm do virus
Hiện nay chưa có vắc xin nào phòng chống virus tạo đờm hệ hô hấp, vì vậy bản thân mỗi người phải có ý thức bảo vệ sức khỏe cho cá nhân và cả gia đình. Đặc biệt là đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần lưu ý:
- Rửa tay thường xuyên nhất là trước khi chạm vào em bé. Dạy cho tre tầm quan trọng của việc rửa tay.
- Tránh cho trẻ sơ sinh (đặc biệt là trẻ sinh non) tiếp xúc với những người bị sốt hoặc cảm lạnh.
- Giữ mọi thứ trong nhà sạch sẽ nhất là khi có người trong gia đình bị cảm lạnh.
- Không dùng chung đồ với người khác.
- Không hút thuốc nơi có trẻ em. Nếu hút thuốc, không bao giờ được hút trong nhà hoặc xe hơi.
- Rửa đồ chơi thường xuyên nhất là khi có trẻ bị bệnh.
- Thuốc bảo vệ.
Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.